BÀI MỚI :

Bài linh hướng cho việc hành hương đến Mễ Du của Lm Slavoko Barbaric.

_____________________

Trọng Tâm của cuộc hành hương.

Chứng từ của một con cái Đức Mẹ Maria : tâm tình về một chuyến Hành Hương đến Thánh Địa Jerusalem:

- Phần 1.

- Phần 2.

- Phần 3.

- Phần 4.

- Phần 5.

- Phần 6.

- Phần 7. (Thuận Hà).

Hành Hương Linh Địa Mễ Du (Thuận Hà) :

- Phần 1.

- Phần 2.

- Phần 3.

- Phần 4.

BÀI LINH HƯỚNG CHO VIỆC HÀNH HƯƠNG ĐẾN MỄ DU

( Phần 1 )

CÁC CHIỀU KÍCH TÂM LINH - TÔN GIÁO VÀ KINH THÁNH - NHÂN CHỦNG HỌC CỦA CUỘC HÀNH HƯƠNG, KHI ĐƯỢC ÁP DỤNG MỘT CÁCH ĐẶC BIỆT CHO MỄ DU

Bài của Linh Mục Tiến Sĩ Slavko Barbaric

I - CON NGƯỜI TRONG VIỆC TÌM KIẾM THIÊN CHÚA

Trong tất cả các tôn giáo, mọi người đều biết đến việc hành hương. Các cuộc hành hương là sự biểu lộ con người đang tìm kiếm Thiên Chúa tại những nơi mà Thiên Chúa đã đặc biệt tỏ lộ chính Người ra; những nơi mà Người đã ban cho nhiều người cái khả năng cảm nhận được sự hiện diện của Người một cách dễ dàng hơn, hoặc là với những người đã nhận được ân sủng đặc biệt, là những người   – qua các ơn của họ - đã trở nên một dấu chỉ đặc biệt về sự hiện diện của Thiên Chúa. Chính vì thế mà có những nơi hành hương đã thu hút nhiều người đến và ở đó họ đã nhận được một thái độ sống mới trong việc tìm kiếm sự cảm nghiệm Thiên Chúa – đó là : cảm nhận được sự bình an, vui mừng, yêu thương và hy vọng trong tâm hồn. Với mỗi chuyến hành hương, người ta để lại phía sau mình cuộc sống thường ngày, công việc, gia đình, bạn bè, sự đảm bảo cuộc sống của mình… và người ấy mong mỏi một cuộc gặp gỡ mới mẻ với Thiên Chúa – ngay lúc khởi hành đến những nơi và đến những người đã chứng tỏ mình là “những người được ơn”, với để giúp mình có được cảm nghiệm mới mẻ với Thiên Chúa.

Cho dù cái động cơ chính yếu và căn bản của mọi chuyến hành hương đều là sự mong mỏi khát khao Thiên Chúa, để lại sau lưng cuộc sống thường ngày và mở lòng mình ra cho Thiên Chúa, chắc chắn còn có những lý do nữa cho chuyến hành hương ngày nay – là biết được thế giới, con người và các phong tục tập quán của con người. Tuy nhiên, nếu những động cơ thứ hai này trở thành điều hệ trọng nhất, thì bấy giờ chỉ còn là việc đi du lịch. Các lý do chính yếu cũng như tất cả những lý do thứ hai có thể có, đều được tiếp sức do tính hiếu kỳ của con người, mà ngay từ những giây phút đầu tiên tính hiếu kỳ đó có thể lấn át mọi động cơ khác. Một số địa điểm hành hương đã được phát triển vì sự can thiệp trực tiếp của Thiên Chúa trong đời sống của một hay nhiều người. Đó là cách mà hầu hết các Trung Tâm Hành Hương, được kết hợp với các cuộc hiện ra của Đức Mẹ, đã đều phát triển. Hoặc là, các địa điểm hành hương được phát triển theo thời gian, thường là sau cái chết của một cá nhân đã được Thiên Chúa đặc biệt chọn lựa, hay thậm chí qua các cá thể trong Giáo Hội có đặc sủng gặp gỡ Thiên Chúa.

Có người đi hành hương lại chẳng cần quan tâm đến địa điểm hành hương có phát triển như thế nào, mà luôn tìm kiếm điều như đã nói ở phần trên (tìm kiếm sự cảm nghiệm mới về Thiên Chúa). Bởi vì có nhiều người đi hành hương vì những động cơ khác nhau, nên bổn phận của những người có trách nhiệm đối với các Trung Tâm Hành Hương (Linh Địa) là giúp đỡ từng người hành hương nhận thức được các động cơ đích thực chuyến hành hương của mình – là gặp gỡ Thiên Chúa, Đấng đang mong đợi từng con người. Mọi phương tiện hữu hiệu có thể sẽ được áp dụng để đạt được điều ấy, để những gì sẽ xảy ra, chắc chắn sẽ xảy ra – là cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa, Đấng đang mong đợi, với người đang đi tìm Người. Đó là lý do mà có người luôn hỏi : “Người ấy là ai ? Người ấy muốn gì và Thiên Chúa đã ban cho người ấy câu trả lời nào ?” Cái tâm tình đặc biệt của chuyến hành hương có thể cho chúng ta nói được rằng : con người tự thân là CÂU HỎI VÀ TÌM KIẾM CÂU TRẢ LỜI, TRONG KHI ĐÓ, THIÊN CHÚA LÀ CÂU TRẢ LỜI VÀ NIỀM TRÔNG ĐỢI CỦA NGƯỜI TÌM KIẾM.

II – CON NGƯỜI TRONG VIỆC TÌM KIẾM SỰ BÌNH AN

Con người là một hữu thể vật chất và tinh thần. Con người đã được Chúa ban cho một trí tuệ, một ý chí tự do và một phạm vi rộng rãi các cảm nghiệm tâm linh. Con người mang trong mình một niềm ao ước sâu sắc là nhận ra được mình. Con người liên tục tìm kiếm nhận thức này và những gì mà con người đang tìm có thể được giải thích theo cách này : Con người là một hữu thể đang khao khát sự bình an. Chính vì thế mà người ta có thể nói mà không nghi ngại rằng quê hương của con người chính là nơi mà con người tìm ra được “bình an” cho mình. Việc tìm kiếm bình an này là động cơ chính của mọi hoạt động con người, và điều ấy cũng có nghĩa là cho toàn bộ cuộc sống của con người. Qua kinh nghệm, chúng ta biết rằng con người được chuẩn bị để thực thi mọi điều tốt lành, thậm chí hy sinh cả cuộc sống của mình, một khi theo cách thức ấy, con người cảm thấy được “bình an”. Tuy nhiên, chúng ta cũng biết rằng, nếu người ta không tìm được bình an, cho dù là người ấy đã thực hiện điều ngay lành và đã mở lòng mình ra cho các giá trị nhân loại, thì người ấy sẽ bắt đầu tìm kiếm sự bình an này trong một thế giới tiêu cực và phá hoại. Theo đấy, người tìm kiếm bình an cũng có thể tự hủy hoại mình, hủy hoại người khác và mọi thứ chung quanh mình.

Nếu người ta nhìn vào sự phát triển và trưởng thành của một cá thể con người từ lúc mang thai cá thể ấy, thì người ta nhận ra được rằng cá thể ấy cần sự bình an để có thể phát triển và trưởng thành hơn mọi thứ khác. Khi người mẹ được bình an, thì đứa con mà người mẹ ấy đang cưu mang trong lòng cũng sẽ được hưởng bình an và sẽ có thể được phát triển “một cách may mắn”. Nhưng một khi sự bình an của người mẹ bị khuấy động vì lý do nào đó trong lúc người mẹ đang cưu mang đứa con trong lòng, lúc bấy giờ đứa trẻ không còn cảm thấy được an lành nữa và sẽ được sinh ra với các hậu quả sâu xa là sự bồn chồn, thao thức – từ đó, đứa trẻ nhiều khi sẽ không thể tự giải thoát mình đối với phần còn lại của cuộc đời. Sau khi được sinh ra, đứa trẻ muốn mình được chấp nhận và được thương yêu để có thể tiếp tục sống cuộc đời trên thế được gian được tràn đầy bình an. Nhưng từ kinh nghiệm, chúng ta cũng biết rằng có nhiều đứa trẻ trong lòng còn cảm thấy bất an bởi lòng ganh tỵ, chẳng bao lâu nữa chúng sẽ nhận thấy rằng gia đình đang trông chờ một đứa bé mới nữa ra đời. Chỉ sau khi đứa trẻ ganh tỵ đã nhận ra rằng đứa trẻ sơ sinh chẳng có đe dọa mà thậm chí còn làm phong phú thêm cho đời mình và mình còn tiếp tục được yêu thương và được chấp nhận, thì lúc đó sự bình an mới trở lại với đứa trẻ. Khi đứa trẻ lớn lên và phát triển, chẳng có gì thay đổi nó cả. Con người chỉ thể hiện sự bồn chồn thao thức bất an của mình với một thái độ khác và con người tìm kiếm sự bình an cho mình theo một phương thức khác – hoặc là theo cách tích cực hay tiêu cực. Ở đây chúng ta đương đầu với một vấn nạn cơ bản : phải chăng con người là một kẻ lưu đày đã mất đi “quê hương an bình” của mình một thời gian lâu dài trước đây và hiện nay đang cố gắng tìm lại với bất cứ cách nào có thể được, hay, phải chăng con người đã được sinh ra với lòng khao khát tìm kiếm sự bình an vượt ra bên ngoài tất cả những sự hứa hẹn trong cái thế giới mà người ấy đang sống đang trao tặng cho người ấy ? Chúng ta không muốn phân tích tất cả những điều có tính chất tâm lý hay có tính chất nhân văn này cũng như phân tích các câu hỏi ấy lúc này, một khi tất cả những điều ấy đều có điểm chung là một con người cụ thể đã được Chúa trao ban cho một trí tuệ, một ý chí tự do và một linh hồn muốn sống trong bình an; nhưng thế gian, theo kinh nghiệm mà con người trải qua, không hoàn toàn chắc chắn cho con người sự bình an trong cuộc sống, vì thế, đó là lý do để con người không mệt mỏi tìm kiếm bình an và không thể nới lỏng bản thân mình cho niềm ao ước làm cho sự bình an này trở thành hiện thực. Để cảm nghiệm được sự bình an này và để có thể được sống mãi trong “quê hương an bình” của mình, tất cả mọi thành phần của con người, là trí tuệ, ý chí tự do, tâm trí và linh hồn, đều phải được thỏa mãn.

Theo điều này, hữu thể con người khác biệt một cách cơ bản với thế giới loài vật. Loài vật không mạo hiểm ra bên ngoài bản thân nó để tìm kiếm sự bình an. Đối với loài vật, để được bình an, thì cái đói của chúng được khuây khỏa, cơn khát của chúng được dập tắt và các nhu cầu của chúng được thỏa mãn, thế là đủ ! Thậm chí những con vật khát máu nhất cũng quên đi cái tính hiếu chiến của mình ngay khi các nhu cầu bản năng của chúng được thỏa mãn. Chúng ta đừng quên rằng tất cả các bô môn nhân học, tâm lý học và xã hội học đều nỗ lực thuyết phục con người tin rằng con người chỉ cần ít hơn so với loài vật để tìm kiếm bình an; nhưng điều “ít hơn” này không được vượt qua các tầm nhìn của thế giới này. Và một lần nữa, kinh nghiệm của chúng ta cho chúng ta thấy rằng : càng thỏa mãn một con người đang ở mức độ theo bản năng vật chất, thì con người lại càng trở nên bất an, hiếu chiến và nguy hiểm cho chính mình và những người chung quanh mình, nếu bản thân mình không thấm đượm được các thực tại tâm linh.

III. HÌNH ẢNH CON NGƯỜI THEO KINH THÁNH – KẺ LƯU ĐÀY BẤT AN

Hình ảnh của con người theo Kinh Thánh rất siêu việt. Thiên Chúa đã tạo dựng con người theo hình ảnh của Người (xem St 1,27). Thiên Chúa trao cho con người cái khả năng cộng tác với Người, và cùng với Người, tìm được sự bình an và hạnh phúc trên thế gian này. Con người được đặt vào Thiên Đường nơi trần thế, là nơi mà trong mối thân tình với Thiên Chúa, con người được hưởng sự bình an. Tuy nhiên, có sự việc đã xảy ra mà theo Kinh Thánh đã vạch rõ, đó là Tội Tổ Tông (Nguyên Tội). Con người đã tạo ra sai lầm trong việc tìm đến điều cấm, thế là con người hủy hoại giao ước của mình với Thiên Chúa và sự hiệp nhất có tính chất hỗ tương của mình. Con người không thể đứng trước sự hiện diện của Thiên Chúa bởi vì bước chân và sự hiện diện của Người đã làm con người sợ hãi, và vì thế con người phải trốn Chúa. Hậu quả đối với con người thật nghiêm trọng. Con người không muốn nhận tội mình mà đổ lỗi cho người khác : đổ cho người đàn ông, là Ađam, đổ cho người vợ mình, là Eva, và Eva lại đổ cho con rắn – là Satan, kẻ đã lừa dối mình. Và con người đã đánh mất sự bình an của mình, sự hiện hữu của mình bị đe dọa vì mọi sự đã quay sang chống lại con người và con người phải rời bỏ Thiên Đàng Hạ Giới, rời bỏ “quê hương an bình”của mình và như một kẻ lưu đầy, con người bị đặt vào tình trạng gian khó, khổ sở, phải lao động nặng nhọc và phải chịu đắng cay, khó nhọc mới có của ăn (xem St 3,17-19).

Theo Thánh Kinh, con người đứng giữa sự hồi tưởng cuộc sống nơi Thiên Đàng và cái nhu cầu nội tại về sự bình an vĩnh cửu, đã được đoan hứa nơi thế gian, nhưng lại chỉ được tỏ lộ trong Vương Quốc Vĩnh Cửu của Thiên Chúa, là vương quốc của bình an, công bình và sự thật. Các Tiên Tri đã liên tục đấu tranh cho sự bình an, các Ngài đã cầu nguyện và hát lên các bài hát về sự bình an, để trong tình yêu của Thiên Chúa, Người sẽ ban bình an cho dân Người. Tất cả những điều kỳ vọng có tính chất tiên tri sẽ được thực hiện nơi Đấng Thiên Sai, là Đấng sẽ đến và tạo ra những điều kiện mới để hiện thực bình an cuối cùng, là bình an của Đấng Cứu Thế.

Theo truyền thống của Kinh Thánh, có nhiều nơi hành hương đã được nói đến; là những nơi mà dân chúng tìm đến Thiên Chúa của mình và là nơi gặp gỡ Người. Kinh Thánh cũng còn đề cập đến những nơi gặp gỡ có tính chất tôn giáo, đề cập đến những cuộc hành hương. Một trong số đó là Si-khem, là nơi dân Thiên Chúa được quy tụ trong Linh Địa của Người và là nơi kết giao ước với Thiên Chúa (xem Gs 24,25). Kinh Thánh còn nói thêm ngoài Si-khem, còn có Bết-ên (1 Sm 10,3), Bơ-e-se-va (Am 5,5), cũng như Óp-ra và Xo-rơ-a (Tl 6,24 và 13,19 và các phần sau) cũng được nói đến như là những nơi để quy tụ.

Sau này, tất cả các linh địa đều bị hủy bỏ và Lễ Vượt Qua (2 V 23), Lễ Các Tuần và Lễ Lều (xin tham khảo Đnl 16,1-17) đều được đưa vào cử hành tại Giê-ru-sa-lem. Có hai lý do cho các cuộc quy tụ ấy : để tập hợp dân lại trước Thiên Chúa và để gìn giữ họ tránh khỏi sự sùng bái ngẫu tượng và dị giáo. Như thế, ngôi Đền Thờ tại Giê-ru-sa-lem vẫn còn tồn tại như là một nơi hành hương duy nhất. Có vô số dân đến từ Pa-lét-tin và đến từ Đi-a-pô-ra quy tụ chung quanh Đền Thờ với cùng mục đích : để duy trì đức tin đúng và không đi lạc ra ngoài Thiên Chúa. Đó là những ngày cầu khẩn với Thiên Chúa thật, trong những ngày đó, lòng nhiệt thành đối với Thánh Đô được biểu thị ra ngoài và tâm tình yêu mến Thiên Chúa sâu sắc của dân được thực hiện. Các cuộc hành hương không được thực hiện như chỉ là một hành động thăm viếng một nơi Thánh Địa, nơi Thiên Chúa tỏ mình, mà còn là một biến cố có tính cánh chung. Người ta nói đến “ngày cứu độ” được mường tượng như là một sự quy tụ những người hành hương của các dân tộc và của những người vô tín. Trong Sách I-sai-a, Thiên Chúa phán : “Ta sẽ đến tập hợp mọi dân tộc và mọi ngôn ngữ; họ sẽ đến và được thấy vinh quang của ta. Ta sẽ đặt giữa họ một dấu hiệu và sai những kẻ sống sót của họ đến với các dân tộc : Tác-sít, Pút, Lút, là những dân thạo nghề cung nỏ, đến dân Tu-van, Gia-van, đến những hải đảo xa xăm chưa hề được nghe nói đến Ta và chưa hề thấy vinh quang của Ta. Họ sẽ loan báo vinh quang của ta giữa các dân tộc. Người ta sẽ đưa tất cả những anh em các ngươi thuộc mọi dân tộc về làm lễ phẩm tiến dâng Đức Chúa, bằng xe, ngựa, võng cáng, lừa và lạc đà về trên Núi Thánh của Ta là Giê-ru-sa-lem…” (Is 66,18-20). Và Tiên Tri Mi-kha đã viết : “Ngày ấy, người ta sẽ tuôn đến với ngươi, tứ Át-sua đến các thành Ai-cập, từ Ai-cập đến sông Cả, từ biển này qua biển nọ, từ núi này đến tận núi kia.” (Mk 7,12).

Ở chỗ này, nhắc lại các bài Thánh Vịnh từ câu 120 đến câu 134 cũng đủ để hiểu được trọn vẹn ý nghĩa của một cuộc hành hương đối với dân Do Thái :

“Vui dường nào khi thiên hạ bảo tôi :

‘Ta cùng trẩy lên đền thánh Chúa !'

Và giờ đây, Giê-ru-sa-lem hỡi,

Cửa nội thành, ta đã dừng chân.

Giê-ru-sa-lem khác nào đô thị

Được xây nên một khối vẹn toàn.

Từng chi tộc, chi tộc của Chúa,

Trẩy hội lên đền ở nơi đây,

Để danh Chúa, họ cùng xưng tụng,

Như lệnh đã truyền cho Ít-ra-en.

Cũng nơi đó, đặt ngai xét xử,

Ngai vàng của vương triều Đa Vít.

Hãy nguyện chúa Giê-ru-sa-lem được thái bình,

Rằng : ‘Chúc thân hữu của thành luôn thịnh đạt,

Tường trong lũy ngoài hằng yên ổn,

Lâu đài dinh thự mãi an ninh.'

Nghĩ tới anh em cùng là bạn hữu,

Tôi nói rằng : ‘Chúc thành đô an lạc.'

Nghĩ tới đền thánh Chúa, Thiên Chúa chúng ta thờ,

Tôi ước mong thành được hạnh phúc, hỡi thành đô.”

(Thánh Vịnh 122,1-9)

Mạc khải Thánh Kinh đã khiến cho sự việc trở nên rõ ràng : con người được kêu vời để thực hiện mọi việc theo phận sự của mình để nhận lãnh những gì mà Thiên Chúa, với tình yêu của Người, đã chuẩn bị cho con người. Vì lý do đó, con người được kêu gọi hoán cải, là con đường đi đến bình an, trên đó, con người bỏ lại mọi sự ở phía sau, là những thứ ngăn cản con người nếm hưởng và sống bình an. Để hoán cải được thành công, điều đó có nghĩa là từ bỏ thế gian này cùng với những hứa hẹn của nó, và mở lòng mình ra cho Thiên Chúa. Người được bình an, cá nhân, gia đình và đôi lúc cũng là toàn bộ con người, không những phải cầu nguyện mà còn phải ăn chay, phải tin yêu, phải hòa giải và tha thứ, cuối cùng phải khuất phục được mọi khó khăn và tìm sự bình an mà Thiên Chúa hứa. Tất cả những điều này đều đặc biệt nảy ra nơi cuộc hành hương.

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã viết về cuộc lữ hành của dân Do Thái trong một văn kiện “Hành Hương trong Năm Thánh 2000”, đoạn số 8 : “Đối với dân Thiên Chúa, các nạn nhân của sự ngã lòng đang nặng gánh bất trung, các Tiên Tri cũng loan báo một cuộc lữ hành cứu độ của Đấng Thiên Sai, mở ra một triển vọng cánh chung, là nơi mà mọi dân tộc trên thế gian sẽ tập hợp nhau lại tại Si-on, miền đất của Lời Chúa, miền đất của bình an và hy vọng. Hãy hồi tưởng lại một lần nữa cái kinh nghiệm Xuất Hành, dân Thiên Chúa phải để cho Chúa Thánh Thần giải phóng họ khỏi trái tim đá và ban cho họ một trái tim thịt. Trên hành trình cuộc sống, họ phải biểu lộ sự công chính và đức tin bền đỗ. Họ phải trở nên ánh sáng cho mọi người cho đến cái ngày mà Đức Chúa Trời sẽ ban ‘bữa đại tiệc cho muôn dân' trên Núi Thánh.”

IV - CHÚA GIÊSU, NGƯỜI LỮ HÀNH

Qua lịch sử, trong thời kỳ sung mãn, chính Thiên Chúa trở thành người qua Chúa Giêsu Kitô, Con của Người, và hướng về con người mà Người muốn đem trở về “quê hương an bình”. Như thế, người ta có thể nói rằng Chúa Giêsu Kitô cũng là một người lữ hành; song với các nghĩa rộng khác nhau. Trong cuộc lữ hành nơi thế gian, Người không tìm kiếm Thiên Chúa mà tìm kiếm con người và ban tặng cho cho người sự thánh thiêng đến từ Thiên Chúa, là cách thức đơn giản nhất để được bình an, vì Người trao tặng bình an cho con người (xem Ga 14,27). Sự giáng thế của Người là thời kỳ khai mạc chuyến lữ hành và còn được tiếp tục vào lúc Đức Mẹ Maria và Thánh Giuse đem Người đến Đền Thờ để dâng tiến Người là con đầu lòng, theo Kinh Thánh và Luật quy định mỗi đứa con trai đầu lòng phải được dâng lên cho Thiên Chúa (xem Lc 2,26).

Chúa Giêsu tiếp tục chặng đường hành hương của mình vào lúc được 12 tuổi. Để hợp với lề luật, Người đi cùng cha mẹ đến thành Giê-ru-sa-lem (xem Lc 2,41) để cầu nguyện trong Đền Thờ, theo các tục lệ của các ngày đại lễ “Mỗi năm ba lần, tất cả các đàn ông con trai phải đến trước nhan Chúa Tể là Đức Chúa” (Xh 23,17). Trong cuộc đời công khai của Người, hết lần này sang lần khác, Chúa Giêsu bắt đầu lữ hành vào những ngày đại lễ khác nhau (xem Ga 2,13; 5,1 và các đoạn sau). Chúa Giêsu đi lên núi, việc Người ăn chay trong sa mạc và cái chết của Người ở trên núi ngoại thành là những chặng đường lữ hành của Người, chặng đường này đã kết thúc trên Núi Thăng Thiên (xem Mt 5,1-2;4,1; Ga 19,17; Cv1,6-12).

Người đã hứa còn ở lại với các Tông Đồ của Người. Người phù hộ cho các Tông Đồ của Người cho đến ngày tận thế và Người thể hiện sự hiện diện của Người qua sự hiện diện của Người trong Bí Tích Thánh Thể, cùng hành trình với dân của Người qua lịch sử cho đến ngày tận thế và tận cùng thời gian. Suy tư về cuộc lữ hành của nhân loại, Đức Thánh Cha đã viết trong Tông Thư Pellegrinaggio (Cuộc Lữ Hành), tiết số 29, như sau : “Cuộc lữ hành của nhân loại mà có gặp những sự căng thẳng và các mâu thuẫn, tức là đang được dẫn đưa vào Thiên Quốc, qua cuộc lữ hành có thể nhận biết ấy mà Giáo Hội đã loan báo và thực hiện một cách can đảm với toàn bộ lòng trung kiên và bề chí bởi vì Giáo Hội đã được Vị Chúa Tể của mình kêu gọi trở nên Muối, Men, Ánh Sáng và Thành xây trên núi.” Chỉ theo cách này, các con đường mới được mở ra nơi : “Tín nghĩa ân tình nay hội ngộ, hòa bình công lý đã giao duyên.” (Tv 85,11). Mọi người Kitô Hữu vẫn được kêu gọi tiếp tục cuộc lữ hành của Giáo Hội này, của dân Chúa và toàn thể nhân loại : “Đối với người Kitô Hữu, hành hương là tuyên xưng đức tin của mình – một sự thể hiện việc thờ phượng cần thiết để sống trung thành với truyền thống – với tình cảm tôn giáo gia tăng và nhận thức được cuộc sống phục sinh của mình.” (Pellegrinaggio, tiết số 32).

Nói một cách ngắn gọn, mục đích của một cuộc hành hương là tìm kiếm Thiên Chúa, Đấng đã tỏ lộ chính Người ở những nơi khác nhau, trong nhiều cách thức khác nhau và trong những lúc khác nhau. Để có được cuộc gặp gỡ Thiên Chúa như thế, sẽ nảy ra trong chuyến hành trình giáo lữ, người ta phải để lại cuộc sống thường ngày của mình, bắt đầu ngay từ lúc lên đường và tuyên xưng đức tin của mình trong cầu nguyện và trong các việc thờ phượng, ngõ hầu Thiên Chúa có thể giải thoát mình khỏi sự dữ và tội lỗi xưa, và một lần nữa, cùng với mình, khởi sự lên đường lữ hành hướng về Thiên Quốc. Chính vì thế mà tại những nơi hành hương, “phụng sự Chúa” phải được hình thành sao cho được trở thành “phục vụ cho con người”.

V – HÀNH HƯƠNG : LÊN ĐƯỜNG VÀ TIẾN BƯỚC

Từ những điều đã nói đến nay, rõ ràng là – thật là thích đáng với thực tại tâm lý-nhân học và tâm linh-tôn giáo – mọi thứ đã được thực hiện nhằm thúc đẩy con người tiến bước, tự mở lòng mình, nhận lãnh, gặp gỡ và ở lại con đường hướng đến Thiên Chúa, là Đấng luôn trung tín với con người. Thiên Chúa tỏ mình ra tại những nơi hành hương theo các cách thức ngoại thường qua Kinh Thánh và những con người đặc biệt. Đó là điều đã thúc đẩy người ta từ bỏ cuộc sống thường nhật của mình và chuyển hướng lòng mình đến những nơi ấy. Với ý định ấy, tiên vàn Thiên Chúa trao ban cho con người sự hiện diện của Người, để con người sẽ tìm được Người trong lúc con người tìm kiếm sự hiện diện yêu thương của Người. Trong mối cảm nghiệm sự hiện diện yêu thương ấy, con người sẽ trải nghiệm được sự giải phóng khỏi các gánh nặng đang chồng chất trên cuộc lữ hành thế gian của mình, là kết quả của sự yếu đuối và lòng đầy tội lỗi của mình, cũng như tội lỗi của người khác. Sau khi con người đã cảm nghiệm được sự giải thoát khỏi gánh nặng tội lỗi của mình và các hệ quả của tội lỗi, con người sẽ đi theo cảm nghiệm về bình an, vui mừng, yêu thương, hy vọng và tin cậy, đồng thời sẽ chấp nhận sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời sống của mình. Người ta sẽ làm mọi việc có thể để ở lại trong sự hiện diện của Thiên Chúa, mặc dù đời sống chẳng luôn được dễ dàng. Cho dù người ta có bị tách rời sự hiện diện thiêng liêng ấy, thì người ta sẽ bắt đầu tìm kiếm và nhận ra được sự hiện diện ấy lần nữa. Càng cảm nghiệm được sự bình an và yêu thương thâm sâu hơn, thì càng được dễ dàng hơn nữa để ở lại trên con đường lữ hành cùng với Chúa và chiến đấu chống lại mọi sự chia tách mình ra khỏi Thiên Chúa.

Để con người có thể phá vỡ sự kềm kẹp của tội lỗi một cách dễ dàng hơn nữa, và để giải thoát con người ra khỏi các hệ quả của tội lỗi, mỗi một nơi hành hương phải đề ra những hình thức gặp gỡ Thiên Chúa khác nhau. Theo Kinh Thánh và các kinh nghiệm của các Tiên Tri, trước tiên là có một lời Kêu Gọi rời bỏ chốn thị thành, từ bỏ đời sống thường ngày và tìm đến những nơi bình an và vắng lặng. Nói cách khác, là đi vào nơi hoang mạc, sau đó lên đường và leo lên núi là nơi các Tiên Tri cầu nguyện và gặp gỡ Thiên Chúa, sau đó trở lại thành phố và nơi ở của họ để tiếp tục nhiệm vụ. Tuy nhiên, trong việc thực hiện hành hương theo Kinh Thánh, Đền Thờ là trung tâm quan trọng nhất, là nơi các tín hữu quy tụ. Tại các nơi ấy mà các tín hữu đã được kêu gọi, họ đã CẦU NGUYỆN và ĂN CHAY. Các việc dâng tiến được thực hiện trong Đền Thờ, là nơi mà nghi thức thờ phượng được cử hành và là nơi có SỰ HÒA GIẢI CÙNG THIÊN CHÚA VÀ CON NGƯỜI. Theo điều này, các tín hữu được canh tân trở lại và sẵn sàng NHẬN LÃNH các tác vụ của mình, làm việc thiện và nghĩ đến các cô nhi quả phụ.

Nói cách khác, theo một phương diện nào đó, con người đi đến nơi hành hương với các nguyện vọng của mình, nhưng còn nặng lòng với các nỗi khó khăn, tội lỗi của mình và những hệ quả của tội lỗi. Chính vì thế mà việc cần thiết là khiến cho con người có thể nhớ lại và nhìn mọi sự trong ánh sáng của tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa, có thể cảm nghiệm được chân lý của Lời Chúa Giêsu kêu gọi tất cả những ai đang khó nhọc và nặng gánh hãy đến với Người, để Người có thể cho họ được nghỉ ngơi và bình an (xem Mt 11,28). Người hành hương phải được giúp đỡ trên lộ trình hành hương để có thể tiếp bước trên các tuyến đường hành hương hợp Kinh Thánh, dành ra thời gian (có nghĩa là không cho phép mình làm mọi việc một cách hấp tấp), như thể là người ấy đang đi du lịch để mà tìm kiếm những điểm giải trí thông thường. Người ấy phải dừng lại và hành xử thời gian của mình; người ấy phải đi lên núi; và trong Đền Thờ, người ấy phải gặp gỡ Thiên Chúa là Đấng tha thứ và ban lại cho người ấy sự bình an.

(còn tiếp phần 2)

(Hạn Điền Vọng Vũ chuyển ngữ theo medjugorje.org)

________________________________

Xin xem [Phần 1][Phần 2][Phần 3]